Cù Lao Chàm – Vẻ đẹp tiềm ẩn

Cách bờ biển Cửa Đại (Hội An- Quảng Nam) 15 km, Cù Lao Chàm là một cụm đảo bao gồm 8 đảo được đặt tên hết sức dân dã: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông với khoảng 3000 người đang sinh sống.

Cù Lao Chàm

Cù Lao Chàm

Cù lao Chàm có khí hậu quanh năm mát mẻ, hệ động thực vật phong phú, đặc biệt là nguồn hải sản và nguồn tài nguyên yến sào. Các rạn san hô ở khu vực biển cù lao Chàm cũng được các nhà khoa học đánh giá cao và được đưa vào danh sách bảo vệ. Du khách đến với cù lao Chàm sẽ trải qua những giờ phút thi vị, bồng bềnh trên sông nước. Từ phố cổ Hội An theo thuyền du lịch qua những xóm làng dọc theo sông Thu Bồn rồi ra Cửa Đại thơ mộng sẽ thấy cù lao Chàm ẩn hiện phía xa xa với một vẻ đẹp lung linh huyền ảo.
Thời gian lưu lại trên đảo du khách không chỉ được thưởng thức giá trị văn hoá của những di tích khảo cổ liên quan đến quá trình cư trú của cư dân cổ cách đây 3000 năm mà còn biết được quá trình giao lưu, buôn bán với các nước thuộc Trung Cận Đông, Đông Nam Á và Ấn Độ cách đây 1000 năm. Đặc biệt là việc phát triển hệ thống đá xếp của cư dân Chăm cổ nhằm khai thác nguồn nước…Tại cù lao Chàm còn có rất nhiều di tích lịch sử văn hoá như chùa Hải Tạng, giếng làng, lăng Ông, miếu Bà, miếu tổ nghề yến cũng như một loạt thắng cảnh thiên nhiên kỳ thú như hang Bà, hang tò vò, hòn bao gạo, suối tình, suối mơ…

Đảo Yến ở Cù Lao Chàm.

Đảo Yến ở Cù Lao Chàm.

Nhờ những điều kiện thuận lợi mà thiên nhiên ban tặng nên hệ động thực vật trên đảo khá phong phú, đa dạng. Rừng cù lao Chàm có nhiều loại lâm sản quý như gõ, kiền kiền, dẻ, chua, mây, song, dâu, sim; các loại dược liệu quý hiếm như mã tiền, sơn máu, ối tím, ngũ gia bì. Quý khách đến đây sẽ được tận hưởng một không gian hoàn toàn mới lạ và những phút giây cực kỳ thú vị. Núi ở đây như một dải đất mẹ cù lao. Sườn phía đông, đá tảng dốc đứng hiểm trở, kéo dài tới sườn tây, dốc thoải bao bọc cù lao. Phía dưới là âu tàu luôn có vài chục tàu neo đậu.

Đã tự bao đời, cù lao Chàm như pháo đài che chắn Cửa Đại, bảo vệ đô thị thương cảng Hội An. Khi men theo những con đường mòn leo lên sườn núi, trên những lùm cây lá thấp là rừng xanh cây lá rộng nhiệt đới phân bố từ độ cao 50 – 500m, có nhiều loại gỗ quý như gõ biển, huỷnh,lim xẹt và vô vàn chủng loại lâm sản như song, mây, cây làm thuốc. Thú vị nhất là nhiêu loại phong lan nở hoa quanh năm với loài huyết nhung tía. Ở sườn đồi phía đông của đảo, do địa hình dốc, vẫn tồn tại thảm thực vật cay bụi và những trảng cỏ với nhiều loại đặc trưng như sến đất,huyết giác và cỏ cứng. Đặc biệt có bốn con suối nước ngọt tự nhiên, bốn mùa nước chảy. Nguồn nước ngọt ở đây dồi dào tới mức đủ để canh tác hàng chục hecta lúa nước. Vào mùa thu hoạch, những cánh đồng trên đảo lúa chin vàng bên sóng biển xanh.

Vẻ đẹp của Cu Lao Cham - cham island hoi an

Vẻ đẹp của Cu Lao Cham

Nơi đây có địa hình đồi núi và thảm thực vật đã được tái tạo xanh tốt, nhiều loài quý hiếm. Thảm thực vật có độ bao phủ lớn chính là nơi cư trú của nhiều loài động vật. Cù lao Chàm có 12 loài thú, 13 loài chim, 130 loài bò sát và 5 loài ếch nhái. Trong đó có 2 loài được ghi vào Sách đỏ động vật Việt Nam là chim Yến và khỉ đuôi dài. Các bãi biển cát vàng sạch mịn với những khối đá làm nên nhiều cảnh quan độc đáo. Đây còn là nơi tụ cư của chim Yến, tổ của chúng gọi là yến sào, là một món ăn quý, bổ dưỡng chỉ dành cho vua chúa (ngày xưa) và các nhà hàng sang trọng. Lúc biển lặng sóng yên, du khách được đưa đến thăm quan các đảo như hang Tò Vò, hang Khô – nơi yến làm tổ trên vách đá cheo leo. Bao quanh các cụm đảo từ độ sâu 1 – 20 m, nước xanh biếc, có nhiều loại hải sản như tôm hùm, ốc hương, hải sâm,ngọc trai, đồi mồi, cua đá…

Đặc biệt, trên cù lao Chàm có nhiều bãi tắm tự nhiên rất đẹp,hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Nhiều người đến đây đã hết sức ngạc nhiên khi cù lao Chàm vẫn còn nguyên những nét hoang sơ của một vùng biển đảo. Trong tương lai không xa, cù lao Chàm sẽ được đầu tư xây dựng thành khu du lịch sinh thái tầm cỡ, thu hút du khách đến nghỉ ngơi, thư giãn.

cù lao Chàm có nhiều bãi tắm tự nhiên rất đẹp

cù lao Chàm có nhiều bãi tắm tự nhiên rất đẹp

Khi đến đây bạn sẽ được trải lòng với những phút giây lãng mạn hiếm có. Cù lao Chàm, miền đất đầy quyến rũ, là vùng đất cổ. Giờ đây, ra cù lao Chàm người ta vẫn còn thấy cả một hệ thống tới hơn 20 công trình kiến trúc cổ gồm: đình, lăng, miếu, chùa, giếng cổ của cả người Chăm và người Việt được xây dựng cách đây vài trăm năm.

Nhà thờ ông tổ nghề nuôi yến ở Cù lao Chàm, một địa điểm được nhiều du khách tham quan

Nhà thờ ông tổ nghề nuôi yến ở Cù lao Chàm, một địa điểm được nhiều du khách tham quan

Đặc biệt là hệ thống công trình đá xếp nằm dọc, dài theo các sườn núi của Hòn Lao đến các bãi cát ven biển.

Đá xếp ở đây được ứng dụng trên nhiều công trình, độc đáo hơn cả là hệ thống khai thác, sử dụng nguồn nước ngọt tự nhiên. Cả hệ thống đá liên hoàn theo từng bậc từ cao điểm 517, thượng nguồn suối Tình dẫn xuống những ruộng bậc thang trồng lúa nước. Cù lao Chàm còn cuốn hút bởi những giá trị vặn hoá cổ xưa. Cách đây khoảng 3000 năm, cù lao Chàm đã có cư dân cổ sinh sống. Trong diễn trình lịch sử, nơi đây còn có rất nhiều di tích thuộc các hệ văn hoá Sa Huỳnh, Chăm Pa, Đại Việt.

Biển đảo trong xanh.

Biển đảo trong xanh.

Sưu tầm và Tổng hợp.

Các bài viết khác . . .

Published in: on October 19, 2009 at 1:58 pm  Leave a Comment  
Tags: , , ,

Nhà cổ Tấn Ký – Ngôi nhà cổ nhất Hội An

Được xây dựng từ hơn 200 năm trước đây, ngôi nhà cổ Tấn Ký tại trung tâm thành phố Hội An (Quảng Nam) mang kiến trúc hình ống đặc trưng của đô thị cổ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Nhà cổ Tấn Ký nhìn từ bên ngoài.

Nhà cổ Tấn Ký nhìn từ bên ngoài.

Nhà cổ Tấn Ký
http://hoian.vn/nha-co-tan-ky-ngoi-nha-co-nhat-hoi-an/

Published in: on September 10, 2009 at 5:13 pm  Leave a Comment  
Tags: , ,

Một số nhà cổ hội quán trên đường Trần Phú TP Hội An

+ Chùa Cầu – Biểu tượng của Hội An

Nằm tiếp giáp đường Nguyễn Thị Minh Khai và đường Trần Phú – Hội An, Chùa Cầu (hay còn gọi chùa Nhật Bản) là công trình kiến do các thương gia Nhật Bản đến buôn bán tại Hội An xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ XVI. Do ảnh hưởng của thiên tại địch họa, Chùa Cầu đã qua nhiều lần trùng tu và dần mất đi các yếu tố kiến trúc Nhật Bản, thay vào đó là kiến trúc mang đậm phong cách Việt, Trung.
Chùa Cầu có dáng hình chữ Công, mặt cầu bằng ván gỗ cong vòng ở giữa, bắt qua con lạch thông ra sông Hoài. Cầu có mái che uốn cong mềm và được chạm trổ nhiều hoạ tiết tinh xảo. Trên cửa chính của Chùa Cầu có chạm nổi 3 chữ Hán là Lai Viễn Kiều (có nghĩa là cầu của những người bạn từ xa đến) – tên do chúa Nguyễn Phúc Chu đặt trong một lần viếng thăm Hội An vào năm 1719. Trên sườn cầu có một ngôi miếu nhỏ thờ thần Bắc Đế Trấn Vũ – thần chuyên trấn trị phong ba, lũ lụt theo tín ngưỡng của người Trung Hoa. Ở hai đầu cầu có đặt hai nhóm tượng khỉ và chó bằng gỗ ngồi chầu.
Lai lịch của Chùa Cầu gắn liền với truyền thuyết về con Cù – một loại thuỷ quái có đầu nằm ở Ấn Độ, mình ở Việt Nam và phần đuôi ở tận Nhật Bản và mỗi lần Cù cựa quậy là gây ra lũ lụt, động đất ở những nơi này. Vì vậy, ngoài việc xây cầu để phục vụ giao thông, người xưa còn có hàm ý trấn yểm loài thuỷ quái, giữ cho cuộc sống yên bình.

Chùa cầu Hội An

Chùa cầu Hội An

Chùa Cầu là tài sản vô giá và đã chính thức được chọn là biểu tượng của Hội An.

+ Hội quán Phúc Kiến (Số 46. Trần Phú – thành phố Hội An)

Ðặc điểm: Hội quán Phước Kiến do nhóm người Phước Kiến (Trung Quốc) đến Hội An sinh sống tạo dựng vào năm 1759. Hội quán này là nơi thờ thần, Tiền hiền và hội họp đồng hương của những người Phước Kiến.
Đến tham quan di tích này, du khách hẳn sẽ ngạc nhiên về bàn tay khéo léo của người xưa đã tạo nên một công trình nguy nga tráng lệ, vừa tinh xảo, vừa sâu lắng. Hội quán có kiến trúc kiểu chữ “Tam” kéo dài từ đường Trần Phú tới đường Phan Chu Trinh (sâu 120m) theo các trật tự: cổng – sân – hồ nước – cây cảnh – hai dãy nhà đông và tây – chính diện – sân sau – và hậu diện. Chính điện thờ Thiên hậu Thánh Mẫu (nữ thần cứu người đi biển gặp nạn), Quan Thế Âm Bồ Tát, Thần Tài, ba Bà Chúa sanh thai và 12 bà mụ. Trong chùa còn có nhiều tượng thờ, trống đồng, chuông đồng, lư hương lớn, 14 bức hoành phi và nhiều hiện vật có giá trị khác.

Hội quán Phước Kiến là một di tích tôn giáo tín ngưỡng, là điểm tham quan thu hút hàng vạn du khách trong và ngoài nước
Tương truyền, tiền thân của Hội quán là một gian miếu nhỏ thờ pho tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu (bà chúa phù hộ cho thương nhân vượt sóng gió đại dương) vớt được tại bờ biển Hội An vào năm 1697. Qua nhiều lần trùng tu, với sự đóng góp chủ yếu của Hoa Kiều bang Phúc Kiến, hội quán càng trở nên rực rỡ, khang trang góp phần tô điểm diện mạo kiến trúc đô thị cổ Hội An.

Hội Quán Phước Kiến

Hội Quán Phước Kiến

Thông qua cách bài trí thờ phụng các hình nhân: 6 vị tiền hiền (lục tánh), bà mụ, thần tài … hội quán thể hiện sâu sắc triết lý Á Đông về hạnh phúc con người.
Hàng năm, vào các ngày Nguyên Tiêu (15 tháng Giêng âm lịch), Vía Lục Tánh (16 tháng 2 Âm lịch), vía Thiên Hậu (23tháng 3 âm lịch) … tại hội quán Phúc Kiến diễn ra nhiều hoạt động lễ hội thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham gia.
Hội quán Phúc Kiến đã được cấp bằng di tích lịch sử – văn hoá quốc gia ngày 17 tháng 2 năm 1990.

+ Hội quán Dương Thương

Hội quán Dương Thương hay còn có tên là hội quán Ngũ Bang được xây dựng từ năm 1741 với sự đóng góp tiền của của các thương nhân của 5 bang: Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam, Gia Ứng để thờ Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu và làm nơi hội họp đồng hương, giúp nhau làm ăn buôn bán. Tại đây còn có tấm bia “Dương Thương Hội quán công nghị điều lệ” ghi rõ 10 điều công nghị của Hoa kiều trong quá trình làm ăn ở đất Hội An.

Hội quán Dương Thương (Số 64 Trần Phú)

Hội quán Dương Thương (Số 64 Trần Phú)

+ Nhà cổ 48 Trần Phú

Có niên đại sớm ở Hội An, quy mô lớn hơn so với các ngôi nhà cổ khác cùng kiểu. Di tích này được tu bổ vào năm 1999 có sự hợp tác của chuyên gia trong nước và Nhật Bản. Kết quả tu bổ di tích này là một mẫu hình về giải pháp tu bổ một ngôi nhà cổ ở Hội An.

Nhà cổ 48 Trần Phú

Nhà cổ 48 Trần Phú


+ Nhà cổ Quân Thắng ( Số 77. Trần Phú – thành phố Hội An)

Là một trong những nhà cổ được đánh giá là đẹp nhất Hội An hiện nay. Ngôi nhà có niên đại hơn 150 năm, mang phong cách kiến trúc vùng Hoa Hạ Trung Hoa. Qua năm tháng, ngôi nhà vẫn được bảo tồn khá nguyên trạng về kiểu dáng kiến trúc và các bài trí nội thất, giúp ta hình dung được phần nào lối sống của các thế hệ chủ nhân, những người thuộc tầng lớp thương gia ở thương cảng Hội An trước đây. Được biết, toàn bộ phần kiến trúc và điêu khắc gỗ rất sinh động, tinh tế của ngôi nhà này đều do các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng thực hiện.

Nhà cổ Quân Thắng ( Số 77. Trần Phú - thành phố Hội An)

Nhà cổ Quân Thắng ( Số 77. Trần Phú - thành phố Hội An)

Đây là một điểm tham quan chính trong hành trình khám phá di sản văn hoá thế giới Hội An của du khách.
Đó là một điển hình của loại nhà trệt thông hai mặt đường Trần Phú và Nguyễn Thái Học. Ngôi nhà này là một trong những ngôi nhà cổ nhất trong Đô thị cổ. Bước vào nhà, có thể nhìn thấy nhiều đặc trưng kiến trúc của Hội An. Đó là kiểu vì “kẻ chuyền” trong cấu trúc hệ mái nhà chính, là một không gian nhỏ có mái che nhìn ra sân trời với vì kèo “chồng rường” được trang trí rất đẹp. Đối diện với sân trời là mái vì vỏ cua. Tường bao xung quanh sân trời được trang trí đẹp bằng gốm Trung Quốc, các đồ án trang trí hình các con vật, cảnh vật cùng với hòn non bộ đã biến nơi đây thành một bức tranh tuyệt tác.


+ Nhà số 85 – Trần Phú

Qua các kết quả khai quật được thực hiện trong khu vực sân trời của ngôi nhà, sự phát triển của Đô thị cổ phần nào được làm sáng tỏ. Các hiện vật được tìm thấy đã chứng minh rằng người Nhật đã định cư tại Hội An vào khoảng cuối thế kỷ XVI. Cùng với nhiều di tích khác trên đường Trần Phú, địa điểm này đã giúp cho các nhà khảo cổ đi tìm về phố Nhật xưa ở Hội An. Đây cũng là một ngôi nhà được bảo tồn khá nguyên trạng ở khu phố cổ Hội An.

Nhà cổ số 85 Trần Phú Hội An

Nhà cổ số 85 Trần Phú Hội An


+ Bảo tàng gốm sứ Mậu Dịch

Địa chỉ: Số 80 Trần Phú, Hội An.
Đặc điểm: Được xây dựng từ năm 1995, lưu giữ trên 430 hiện vật gốm sứ có niên đại từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 18. Được xây dựng vào năm 1995, bảo tàng lưu giữ trên 430 hiện vật gốm sứ có niên đại từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 18.
Hầu hết các hiện vật là gốm sứ mậu dịch có nguồn gốc từ Trung Cận Đông, Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam… minh chứng cho vai trò quan trọng của thương cảng Hội An trong mạng lưới mậu dịch gốm sứ trên biển vào các thế kỷ trước, đồng thời cũng cho thấy quan hệ giao lưu văn hoá- kinh tế quốc tế đã từng diễn ra rất mạnh mẽ ở Hội An.

+ Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh (Số 149. Trần Phú -thành phố Hội An)

Bảo tàng là nơi cung cấp những thông tin phong phú về cư dân cổ thuộc hệ văn hoá Sa Huỳnh – chủ nhân cảng thị Hội An sơ khai từng có quan hệ giao lưu Trung Hoa, Ấn Độ và các quốc gia Đông Nam Á. Tại đây trưng bày 216 hiện vật văn hoá Sa Huỳnh có niên đại trên dưới 2000 năm được phát hiện qua các đợt khảo sát, khai quật khảo cổ học tại các địa điểm: Hậu Xá, Thanh Chiêm, An Bàng, Xuân Lâm … từ năm 1989 đến năm 1994.
Các hiện vật tại bảo tàng được đánh giá là bộ sưu tập độc đáo nhất của Việt Nam hiện nay về văn hoá Sa Huỳnh.

Văn hoá Sa Huỳnh

Văn hoá Sa Huỳnh

http://hoian.vn/nha-co-hoi-quan-di-tich-tren-duong-tranphu-hoian/

Published in: on September 10, 2009 at 5:08 pm  Leave a Comment  
Tags: , ,

Chùa Cầu

Lịch Sử

Nằm tiếp giáp đường Nguyễn Thị Minh Khai và đường Trần Phú – Hội An, Chùa Cầu (hay còn gọi cầu Nhật Bản hay Lai Viễn Kiều) là công trình kiến do các thương gia Nhật Bản đến buôn bán tại Hội An xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ 16 -17

Chùa Cầu Hội An

Chùa Cầu Hội An

Theo truyền thuyết, ngôi chùa được coi như là một thanh kiếm đâm xuống lưng con quái vật mamazu, khiến nó không quẫy đuôi, gây ra những trận động đất. Năm 1653, người ta dựng thêm phần chùa, nối liền vào lan can phía Bắc, nhô ra giữa cầu, từ đó người địa phương gọi là Chùa Cầu.

Năm 1719, chúa Nguyễn Phúc Chu thăm Hội An, đặt tên cho chiếc cầu là Lai Viễn, với ý nghĩa là “bạn phương xa đến”.

Theo niên đại được ghi lại ở xà nóc và văn bia còn lại ở đầu cầu thì chiếc cầu đã được dựng lại vào năm 1817. Ngôi chùa có lẽ cũng được dựng lại vào thời gian này.

Chùa được trùng tu vào các năm 1817, 1865, 1915, 1986.

Kiến trúc

Chiếc cầu dài khoảng 18 m, có mái che, vắt cong qua lạch nước chảy ra sông Thu Bồn giáp ranh giữa hai đường Nguyễn Thị Minh Khai và Trần Phú.

Chùa Cầu là một trong những di tích có kiến trúc khá đặc biệt. Mái chùa lợp ngói âm dương che kín cả cây cầu. Trên cửa chính của Chùa Cầu có một tấm biển lớn chạm nổi 3 chữ Hán là Lai Viễn Kiều.
Chùa và cầu đều bằng gỗ sơn son chạm trổ rất công phu, mặt chùa quay về phía bờ sông. Hai đầu cầu có tượng thú bằng gỗ đứng chầu, một đầu là tượng chó, một đầu là tượng khỉ, (có lẽ được xuất phát từ nghĩa cây cầu xây từ năm thân, xong năm tuất).
Tương truyền đó là những con vật mà người Nhật sùng bái thờ tự từ cổ xưa. Tuy gọi là chùa nhưng bên trong không có tượng Phật. Phần gian chính giữa (gọi là chùa) thờ một tượng gỗ Bắc Đế Trấn Võ – vị thần bảo hộ xứ sở, ban niềm vui hạnh phúc cho con người, thể hiện khát vọng thiêng liêng mà con người muốn gửi gắm cùng trời đất nhằm cầu mong mọi điều tốt đẹp.

Có câu thơ về Chùa Cầu:

Ai đi phố Hội Chùa Cầu
Để thương để nhớ để sầu cho ai
Để sầu cho khách vãng lai
Để thương để nhớ cho ai chịu sầu.

Mặt trước Chùa cầu

Mặt trước Chùa cầu

Do ảnh hưởng của thiên tại địch hoạ, Chùa Cầu đã qua nhiều lần trùng tu và dần mất đi các yếu tố kiến trúc Nhật Bản, thay vào đó là kiến trúc mang đậm phong cách Việt, Trung.

Chùa Cầu có dáng hình chữ Công, mặt cầu bằng ván gỗ cong vòng ở giữa, bắt qua con lạch thông ra sông Hoài. Cầu có mái che uốn cong mềm và được chạm trổ nhiều hoạ tiết tinh xảo. Trên cửa chính của Chùa Cầu có chạm nổi 3 chữ Hán là Lai Viễn Kiều (có nghĩa là cầu của những người bạn từ xa đến) – tên do chúa Nguyễn Phúc Chu đặt trong một lần viếng thăm Hội An vào năm 1719. Trên sườn cầu có một ngôi miếu nhỏ thờ thần Bắc Đế Trấn Vũ – thần chuyên trấn trị phong ba, lũ lụt theo tín ngưỡng của người Trung Hoa. Ở hai đầu cầu có đặt hai nhóm tượng khỉ và chó bằng gỗ ngồi chầu. Lai lịch của Chùa Cầu gắn liền với truyền thuyết về con Cù – một loại thuỷ quái có đầu nằm ở Ấn Độ, mình ở Việt Nam và phần đuôi ở tận Nhật Bản và mỗi lần Cù cựa quậy là gây ra lũ lụt, động đất ở những nơi này. Vì vậy, ngoài việc xây cầu để phục vụ giao thông, người xưa còn có hàm ý trấn yểm loài thuỷ quái, giữ cho cuộc sống yên bình.
Chùa Cầu là tài sản vô giá và đã chính thức được chọn là biểu tượng của Hội An.

Nguồn từ: wikipedia.org và sưu tầm.

Xem thêm các bài viết khác . . .

Published in: on July 27, 2009 at 1:14 am  Leave a Comment  
Tags: , ,

Tổng Quan Phố Cổ Hội An

Duong pho Hoi AnHội An có 7 km bờ biển với nhiều bãi tắm đẹp thuận lợi cho phát triển du lịch và 01 ngư trường khá rộng với nguồn hải sản khá dồi dào, có đảo Cù Lao Chàm (rộng 1.591 ha) với nguồn đặc sản Yến Sào nổi tiếng, đồng thời là nơi rất thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái (Biển – Đảo).
+ Tài nguyên thiên nhiên nổi bật :
Từ thế kỷ 16 đến 19, Hội An từng là trung tâm mậu dịch quốc tế trên hải trình thương mại đông – tây, là một thương cảng phồn thịnh nhất của xứ Đàng Trong – Việt Nam dưới triều đại các chúa Nguyễn bởi thương thuyền từ Nhật Bản, Trung Hoa, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan … thường đến đây để trao đổi, mua bán hàng hoá. Trong lịch sử hình thành và phát triển, Hội An đã được thế giới biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau. Phổ biến nhất là: Faifo, Haisfo, Hoài phố, Ketchem, Cotam… Các di chỉ khảo cổ và các hiện vật, công trình kiến trúc còn lưu lại đã chứng minh Hội An là nơi hội tụ, giao thoa giữa nhiều nền văn hoá: Chăm, Việt, Trung Hoa, Nhật Bản … trong đó chịu sự ảnh hưởng nhiều nhất của văn hoá Việt và Trung Hoa.
Đến nay, khu phố cổ Hội An vẫn bảo tồn gần như nguyên trạng một quần thể di tích kiến trúc cổ gồm nhiều công trình nhà ở, hội quán, đình chùa, miếu mạo, giếng cầu, nhà thờ tộc, bến cảng, chợ… và những con đường phố hẹp chạy ngang dọc tạo thành các ô vuông kiểu bàn cờ. Cảnh quan phố phường Hội An bao quát một màu rêu phong cổ kính trông hư hư, thực thực như một bức tranh sống động. Sự tồn tại một đô thị như Hội An là trường hợp duy nhất ở Việt Nam và cũng hiếm thấy trên thế giới. Đây được xem như một bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị.

Ngoài những giá trị văn hoá qua kiến trúc đa dạng, Hội An còn lưu giữ một nền tảng văn hoá phi vật thể khá đồ sộ. Cuộc sống thường nhật của cư dân với những phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian, lễ hội văn hoá đang được bảo tồn và phát huy cùng với cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, các làng nghề truyền thống, các món ăn đặc sản … làm cho Hội An ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn của du khách thập phương.
Tháng 12 năm 1999, UNESCO đã công nhận khu phố cổ Hội An là di sản văn hoá thế giới.

Theo tài liệu thống kê, đến nay Hội An có 1.360 di tích, danh thắng. Riêng các di tích được phân thành 11 loại, gồm: 1.068 nhà cổ, 19 chùa, 43 miếu thờ thần linh, 23 đình, 38 nhà thờ tộc, 5 hội quán, 11 giếng nước cổ, 1 cầu, 44 ngôi mộ cổ. Trong khu vực đô thị cổ có hơn 1.100 di tích.

+ Vị trí địa lý:
Thị xã Hội An nằm ở vùng hạ lưu ngã 3 sông Thu Bồn thuộc vùng đồng bằng ven biển Tỉnh Quảng Nam, cách Thành phố Ðà Nẵng về phía Nam 28 km.
– Vĩ độ Bắc: 15015′26″ đến 15055′15″
– Kinh độ Ðông: 108017′08″ đến 108023′10″
– Phía Ðông giáp biển Ðông
– Phía Nam giáp Huyện Duy Xuyên
– Phía Tây và Bắc giáp Huyện Ðiện Bàn

+ Khí hậu:

– Nhiệt độ trung bình năm: 2506
– Ðộ ẩm không khí trung bình năm: 82%
– Lượng mưa trung bình năm: 2.066 mm
– Diện tích tự nhiên: 6.027,25 ha
– Dân số (số liệu điều tra 1/4/2002): 81.021 người.

Xem thêm các bài viết khác . . .

Published in: on April 5, 2009 at 1:28 pm  Leave a Comment  
Tags: ,

Lịch sử Văn hoá Hội An

ban do Hoi An - Viet Nam - Hoi An MapHội An là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử cánh mạng và văn hóa, được kết tinh qua nhiều thời đại và từng nổi tiếng trên thương trường quốc tế với nhiều tên gọi khác nhau như Lâm Ấp, Faifo Hoài Phố, Hội An…

Do có đặc điểm địa lý thuận lợi nên từ hơn 2000 năm trước, mảnh đất này đã tồn tại và phát triển nền văn hóa Sa Huỳnh muộn. Qua kết quả nghiên cứu khảo cổ học tại 4 di tích mộ táng (An Bang, Hậu Xá I, Hậu Xá II, Xuân Lâm) và 5 điểm cư trú (Hậu Xá I, Trảng Sỏi, Ðồng Nà, Thanh Chiắm, Bàu Ðà), với nhiều loại hình mộ chum đặc trưng, với những công cụ sản xuất, công cụ sinh hoạt, đồ trang sức tuyệt xảo bằng đá, gốm, thủy tinh, kim loại… được lấy lên từ lòng đất đã khẳng định sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Sa Huỳnh. Ðặc biệt sự phát hiện hai loại tiền đồng Trung Quốc thời Hán (Ngũ Thù, Vương Mãng), những hiện vật sắt kiểu Tây Hán, dáng dấp Ðông Sơn, Óc Eo, hoặc đồ trang sức với công nghệ chế tác tinh luyện trong các hố khai quật đã chứng minh một điều thú vị rằng, ngay từ đầu Công nguyên, đã có nền ngoại thương manh nha hình thành ở Hội An.

Dưới thời vương quốc Chăm Pa (Thế kỷ 9-10), với tên gọi Lâm ấp Phố, Hội An đã từng là cảng thị phát triển, thu hút nhiều thương thuyền Ả Rập, Ba Tư, Trung Quốc đến buôn bán, trao đổi vật phẩm. Nhiều thư tịch cổ ghi nhận đã có một thời gian khá dài, Chiêm cảng – Lâm ấp Phố đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự hưng thịnh của kinh thành Trà Kiệu và khu di tích đền tháp Mỹ Sơn. Với những phế tích móng tháp Chăm, giếng nước Chăm và những pho tượng Chăm (tượng vũ công Thiên tiên Gandhara, tượng nam thần tài lộc Kubera, tượng voi thần…) cùng những mảnh gốm sứ Trung Quốc, đại Việt, Trung Ðông thế kỷ 2-14 được lấy lên từ lòng đất càng làm sáng tỏ một giả thiết từng có một Lâm ấp Phố (thời Chăm Pa) trước Hội An (thời Ðại Việt), từng tồn tại một Chiêm cảng với sự phát triển phồn thịnh.

Cũng chính nhờ môi trường sông nước thuận lợi, cộng với nhiều yếu tố nội, ngoại sinh khác, từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, đô thị – thương cảng Hội An lại được tái sinh và phát triển thịnh đạt. Do hấp lực của cảng thị này, cùng với “con đường tơ lụa”, “con đường gốm sứ” trên biển hình thành từ trước nên thương thuyền các mước Trung, Nhật, Ấn Độ, Xiêm, Bồ, Hà, Anh, Pháp… tấp nập đến đây giao thương mậu dịch.

Theo các nguồn sử liệu, lượng tàu thuyền vào ra bến cảng tấp nập đến nỗi cột buồm của chúng “như rừng tên xúm xít” (Thích Ðại Sán – Hải ngoại ký sự), còn hàng hóa thì “không thứ gì không có”, nhiều đến mức ” cả trăm chiếc tàu to chở cùng một lúc cũng không hết được” (Lê Quý Ðôn – Phủ biên tạp lục). Trong thời kỳ này, Hội An là đô thị-thương cảng quốc tế phát triển rực rỡ vào bậc nhất của cả nước và cả khu vực Ðông Nam Á, là cơ sở kinh tế trọng yếu của các chúa Nguyễn, vua Nguyễn ở Ðàng Trong.

Từ cuối thế kỷ 19, do chịu sự tác động của nhiều yếu tố bất lợi, “cảng thị thuyền buồm” Hội An suy thoái dần và mất hẳn, nhường vai trò lịch sử của mình cho ” cảng thị cơ khí trẻ”ớ Ðà Nẵng. Nhưng cũng nhờ đó, Hội An đã tránh khỏi được sự biến dạng của một thành thị trung – cận đại dưới tác động của đô thị hóa hiện đại để bảo tồn cho đến ngày nay một quần thể kiến trúc đô thị cổ hết sức độc đáo, tuyệt vời.

Trong suốt 117 năm kháng chiến chống ngoại xâm (1858 – 1975), hàng nghìn người dân Hội An đã ngã xuống cho độc lập và thống nhất đất nước. Nhiều địa phương và một số người trong số họ đã được phong tặng danh hiệu “Anh hùng”

Vào ngày 22/8/1998, Hội An được nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân”. Hơn một năm sau, ngày 4 tháng 12 năm 1999, Tổ chức Văn hóa – Khoa học – Giáo dục Liên hiệp quốc UNESCO đã ghi tên Hội An vào danh mục các di sản Văn hóa thế giới và vào ngày 24/8/2000 Hội An một lần nữa được nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động” trong thời kỳ đổi mới.

Sưu tầm.

Published in: on April 5, 2009 at 1:26 pm  Leave a Comment  
Tags: ,
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.